Đối với ánh xạ khả vi F(u,v)=(x,y)=(f(u,v),g(u,v)), Jacobian của nó là J=[[f_u,f_v],[g_u,g_v]]. Những thay đổi nhỏ thỏa mãn [dx,dy] (chuyển vị)=J[du,dv] (chuyển vị) xấp xỉ bậc nhất. Để tìm u_x trong khi giữ y không đổi, đạo hàm cả hai phương trình xác định theo x: f_u u_x+f_v v_x=1 và g_u u_x+g_v v_x=0. Đây là một hệ phương trình tuyến tính liên kết, chứ không phải hai quy tắc nghịch đảo vô hướng độc lập.
Nếu f và g khả vi liên tục gần điểm đó và det J=f_u g_v−f_v g_u khác không tại đó, thì định lý hàm nghịch đảo cung cấp một nghịch đảo cục bộ khả vi. Đạo hàm của nó là J⁻¹=(1/det J)[[g_v,−f_v],[−g_u,f_u]]. Do đó u_x=g_v/det J, u_y=−f_v/det J, v_x=−g_u/det J và v_y=f_u/det J. Đánh giá mọi đạo hàm tại điểm tương ứng. Một nghịch đảo cục bộ có thể không mở rộng thành nghịch đảo toàn cục.
Đối với phương trình ẩn H(u,v,x,y)=0 và K(u,v,x,y)=0, lấy đạo hàm trong khi cố định tọa độ độc lập yêu cầu. Giải [[H_u,H_v],[K_u,K_v]][u_x,v_x] (chuyển vị)=−[H_x,K_x] (chuyển vị). Định thức trong các biến ẩn u,v phải khác không để sử dụng định lý hàm ẩn thông thường. Dấu ở vế phải đến từ việc chuyển các đạo hàm đã biết sang vế kia. Nếu định thức bằng không, định lý này không đưa ra kết luận; bản thân nó không chứng minh rằng không tồn tại nghịch đảo hay nghiệm ẩn nào.
Lời giải rút gọn vô hướng du/dx=1/(dx/du) chỉ đúng với nghịch đảo một biến có đạo hàm khác không, nhưng thường sai đối với hệ ghép vì v thay đổi để giữ y cố định. Đối với x=u+v,y=u+2v, J=[[1,1],[1,2]] có định thức 1 và nghịch đảo [[2,−1],[−1,1]]. Do đó u_x=2 trong khi 1/f_u=1. Một ma trận Jacobian nghịch đảo chuyển đổi độ nhạy vi phân; tích phân đổi biến thay vào đó sử dụng trị tuyệt đối của định thức để nhân tỷ diện tích hoặc thể tích, chứ không phải một phần tử nghịch đảo được chọn.