Với f:X→Y và A⊆X, ảnh f(A) bao gồm tất cả các giá trị f(a) với a thuộc A. Một điểm nằm trong f(A∪B) khi và chỉ khi nó đến từ A hoặc B, do đó f(A∪B)=f(A)∪f(B). Nếu A⊆B, thì f(A)⊆f(B). Chỉ có f(A∩B)⊆f(A)∩f(B) là luôn đúng: cùng một giá trị có thể xuất phát từ các đầu vào khác nhau. Sử dụng f(x)=x², A={−1}, B={1}; ảnh bên trái là tập rỗng trong khi giao của ảnh bên phải là {1}.
Ảnh ngược hoạt động theo cách khác. Với C⊆Y, ký hiệu f⁻¹(C) ở đây chỉ tập hợp tất cả các đầu vào được ánh xạ vào C, ngay cả khi f không có hàm nghịch đảo. Thuộc về hai ảnh ngược nghĩa là cùng một đầu vào ánh xạ vào cả hai tập đích. Do đó, ảnh ngược bảo toàn hợp, giao và phần bù so với miền/mã miền đã cho. Đừng áp dụng định lý về ảnh ngược sang ảnh trực tiếp. Nếu f là đơn ánh, giao của các ảnh sẽ trở nên bằng nhau, vì các giá trị bằng nhau khi đó buộc phải có chung một đầu vào.
Một quan hệ R trên X là phản xạ khi xRx với mọi x, đối xứng khi xRy suy ra yRx, và bắc cầu khi xRy và yRz suy ra xRz. Cả ba tính chất này tạo thành một quan hệ tương đương; các lớp tương đương phân hoạch X. Trên số nguyên, xRy khi x và y có cùng dư khi chia cho 4 tạo ra bốn lớp. Quan hệ |x−y|≤1 là phản xạ và đối xứng nhưng không bắc cầu: 0R1 và 1R2 trong khi 0 không liên quan đến 2. Chỉ kiểm tra sơ đồ hoặc hai tính chất là chưa đủ.
Kém implication P⇒Q chỉ sai khi P đúng và Q sai. Do đó phủ định của P⇒(Q∧R) là P∧(¬Q∨¬R), chứ không phải ¬P⇒(¬Q∧¬R). Phủ định “mọi x đều có tính chất A” cho “tồn tại x không có A”; phủ định “tồn tại x” cho “mọi x đều không”. Một ví dụ phản chứng có thể bác bỏ một khẳng định phổ quát, trong khi các ví dụ không thể chứng minh nó. Các lượng từ giữ nguyên thứ tự khi bị phủ định từng cái: ¬(∀x∃y S(x,y)) là ∃x∀y ¬S(x,y).