Một hàm gán đúng một giá trị đầu ra cho mỗi giá trị đầu vào được phép. Tính đơn ánh nghĩa là các giá trị đầu ra bằng nhau bắt buộc phải có giá trị đầu vào bằng nhau; tính toàn ánh nghĩa là mọi phần tử của tập giá trị đã cho đều đạt được. Phép ánh xạ xx² từ R đến [0,∞) là toàn ánh nhưng không đơn ánh. Từ [0,∞) đến [0,∞) thì vừa đơn ánh vừa toàn ánh, do đó là bijection. Từ [0,∞) đến R nó vẫn đơn ánh nhưng không còn toàn ánh. Khi kiểm tra từng phát biểu, hãy tách riêng tập xác định, tập ảnh và tập giá trị.
Hàm nghịch đảo đảo ngược một song ánh. Giải y=f(x) để tìm x, sau đó sử dụng miền xác định ban đầu để chọn nhánh. Với f(x)=(x−2)²−5 trên x≥2, hàm nghịch đảo là 2+√(y+5) trên y≥−5. Nhánh trừ sẽ trả về các giá trị đầu vào nằm ngoài miền đã chọn. Kiểm tra f⁻¹(f(x))=x với x hợp lệ và f(f⁻¹(y))=y với y hợp lệ; một phép compose chưa kiểm tra có thể che giấu lỗi miền xác định.
Đồ thị nghịch đảo phản chiếu đồ thị gốc qua đường thẳng y=x; nó không lấy nghịch đảo của các giá trị đầu ra. Một hàm tự nghịch (self-inverse), hay còn gọi là involution, thỏa mãn f(f(x))=x tại mọi nơi mà phép hợp được xác định. Cả −x trên R và 1/x trên R trừ số 0 đều là involutions. Một involution tăng nghiêm ngặt trên một khoảng phải là hàm đồng nhất: nếu f(x)>x, tính tăng sẽ dẫn đến f(f(x))>f(x)>x, và lập luận tương tự loại bỏ trường hợp f(x)<x.
Lặp fⁿ nghĩa là Composition lặp lại, không phải lũy thừa (f(x))ⁿ. Tính toán vài Composition đầu tiên và kiểm tra miền xác định trước khi tìm chu kỳ. Với f(x)=1/(1−x) trên R ngoại trừ 0 và 1, f²(x)=(x−1)/x và f³(x)=x. Ảnh vẫn nằm trong cùng miền cho phép. Do đó hãy rút gọn số lần lặp theo modulo ba. Công thức hiển thị bằng x sau khi triệt tiêu không khôi phục lại các giá trị cấm.